Quản lý lớp học

Quản lý lớp học

1. Những nghiên cứu đã cho thấy về việc sử dụng máy tính

Một số giảng viên cấm sử dụng máy tính xách tay trong lớp học của họ. Họ được hỗ trợ bởi những nghiên cứu tâm lý học cho thấy rằng việc sử dụng các thiết bị điện tử trong lớp học có thể dẫn đến việc gây mất tập trung trong lớp. Raveather và các cộng sự (2016) đã đo thời lượng thực tế sử dụng Internet của sinh viên trong lớp bằng máy tính xách tay, động lực của sinh viên, thành tích trong lớp và trí thông minh của họ. Họ phát hiện ra rằng những sinh viên sử dụng máy tính xách tay trong lớp vì lý do phi học thuật có hiệu suất trên lớp kém hơn, được chỉ ra thông qua những điểm số cuối kì của họ. Có nhiều nghiên cứu cho thấy rằng việc ghi chép bằng tay hiệu quả hơn so với làm việc với máy tính xách tay (Mueller & Oppenheimer, 2014) và người dùng máy tính xách tay cũng khiến bạn học của họ bị mất tập trung, vì nó thu hút ánh nhìn trực tiếp của các sinh viên về những chiếc laptop và làm ảnh hưởng đến việc học tập. (Sana và các cộng sự. 2013).

Điều đó chỉ ra rằng, việc cấm sử dụng có thể dễ dàng thực hiện hơn việc cho phép, đặc biệt là nếu lệnh cấm bao gồm cả điện thoại di động. Sẽ cần phải chuẩn bị và thông báo trước về lệnh cấm này vì nó có thể gây gián đoạn trong việc học cũng như ảnh hưởng đến các động lực của sinh viên. Nó có thể mâu thuẫn với phần giảng dạy của bạn, đặc biệt nếu cách tiếp cận quản lý lớp học của bạn mang tính tư vấn nhiều hơn là quan hệ “cấp trên – cấp dưới”, cũng như nếu bạn có ý định giảng dạy trên các nền tảng công nghệ giáo dục trực tuyến như GoogleDocs.

Khuyến nghị

Cuối cùng, trong việc quyết định hướng hành động tốt nhất cho bản thân, cần xem xét triết lý của riêng bạn về vấn đề, mục tiêu giảng dạy và tính cách giảng dạy và cách tiếp cận của bạn. (Raveather và cộng sự (2017). Nếu bạn không thích sử dụng những lệnh cấm, có những cách tiếp cận hoặc chiến lược khác mà bạn có thể áp dụng để giảm bớt những sự phân tâm được nêu ra trong tài liệu sau đây.

A. Sử dụng các chiến lược học tập chủ động yêu cầu sinh viên tự tách biệt khỏi thiết bị của mình, bằng cách di chuyển quanh phòng học hoặc làm việc nhóm xung quanh một không gian bàn chung để nhường lại không gian trống cho máy tính xách tay và xác định các bài học được chọn chỉ khi điện thoại di động hoặc laptop được để ở chế độ im lặng hoặc cất đi. Lý tưởng nhất, bạn nên thông báo trước lớp và bạn nên tự thực hiện việc này để tuân thủ quy tắc, giơ điện thoại lên và chuyển sang im lặng, trước khi đặt nó sang một bên.

B. Di chuyển xung quanh lớp khi sinh viên tham gia thảo luận theo cặp hoặc theo nhóm. Những tương tác này khuyến khích sự tập trung của sinh viên trong khi không khuyến khích việc sử dụng thiết bị không phù hợp.

C. Bao gồm một bài thực hành yêu cầu sinh viên sử dụng máy tính xách tay của họ để giúp giảng viên nghiên cứu một vấn đề hoặc để giúp ghi chú một phân đoạn cụ thể hoặc trao đổi các thông tin trong bài nghiên cứu để chia sẻ với lớp.

D. Tiếp đến là thử thách chiến thắng sinh viên của bạn bằng cách làm cho bài học của bạn trở nên thú vị, kích thích tư duy và tương tác nhất có thể. Một số nghiên cứu cho rằng sự phân tâm bằng internet là triệu chứng chứ không phải là nguyên nhân cơ bản, có thể xuất phát từ sự nhàm chán.

E. Làm việc với công nghệ chứ không phải chống lại nó. Tận dụng phương tiện truyền thông xã hội và các nền tảng công nghệ giáo dục trực tuyến khác như một phần của bài học của bạn. Có những nghiên cứu chỉ ra rằng sinh viên thườn tham gia và có kết quả tích cực hơn trong học tập thông qua việc sử dụng các phương tiện xã hội như Twitter, đặc biệt là khi việc sử dụng đó được tiếp tục thực hiện bên ngoài lớp học (Chawinga 2017, Al-Bahrani, và các cộng sự. 2015, và Jaquemin, và các cộng sự. 2014)

2. Thành lập các đội của sinh viên

Làm việc theo nhóm hoặc đội làm các nhiệm vụ hoặc bài tập là một tính năng thường xuyên trong phương pháp sư phạm học tập tích cực của SMU.

Những gì nghiên cứu đã chỉ ra

Trong một phân tích tổng hợp 168 nghiên cứu được thực hiện bởi David Johnson, Roger Johnson và Karl Smith so sánh việc học tập theo nhóm (hợp tác) với phương pháp cá nhân hoặc cạnh tranh, người ta thấy rằng học tập hợp tác tạo ra thành tích học tập tốt hơn cả học tập cạnh tranh và học tập cá nhân. Qua nghiên cứu, chúng ta thấy việc học nhóm kết quả trung bình cao hơn 0,54 khi so sánh với cạnh tranh và 0,51 khi so sánh với học tập cá nhân, tức là tốt hơn khoảng một nửa so với 2 phương pháp kia. Đáng chú ý là các biện pháp đánh giá thành tích học tập được xác định trong mỗi nghiên cứu nằm trong phạm vi từ các nhiệm vụ đơn giản (ví dụ: thu nhận và duy trì kiến thức) đến hoạt động phức tạp hơn (ví dụ: giải quyết vấn đề sáng tạo) và từ những vấn đề chỉ cần dùng lời đến những vấn đề yêu cầu các bước thực hiện cụ thể. Phân tích tổng hợp cũng cho thấy hiệu quả đáng kể của việc học nhóm đối với các biện pháp khác, bao gồm lòng tự trọng và thái độ tích cực về học tập.

Những kết quả này đã được Springer, Stanne và Donovan (1999) xác nhận thêm trong phân tích tổng hợp 39 nghiên cứu trong các lớp học của trường đại học STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học). Sinh viên tham gia các nhóm nhỏ khác nhau, dù tham gia ở hình thức nào, đóng góp ít hay nhiều, đều thể hiện thành tích học tập tốt hơn, thể hiện thái độ hợp tác hơn đối với việc học và tăng sự kiên trì qua các khóa học STEM so với học sinh không tham gia học nhóm.

Các khuyến nghị để tăng cường động lực học tập trong các nhóm sinh viên

Trước khi tham gia

1. Nêu rõ các mục tiêu học tập của hoạt động nhóm, bao gồm cả mục tiêu học tập mà bạn muốn học sinh đạt được và các kỹ năng xã hội mà bạn muốn chúng phát triển. Lặp lại giá trị của việc có thể làm việc thành công với các cá nhân khác nhau.

2. Xác định nhóm có khả năng đạt được mục tiêu của bạn nhất.

a. Đối với thành viên trong nhóm, các nhóm sinh viên nên nên bao gồm một nhóm được trộn với nhiều dân tộc, giới tính, cũng như quốc tịch và trường học (nếu có liên quan). Điều này đảm bảo rằng một sinh viên cá nhân có cơ hội học cách làm việc và cộng tác với nhiều phong cách làm việc, kỹ năng và khuynh hướng khác nhau, để chuẩn bị cho thực tế tại nơi làm việc (Frey, Fisher & Everlove, 2009). Nói chung, cũng nên thành lập các nhóm với các thành viên không đồng nhất về các kỹ năng hoặc khả năng cụ thể liên quan đến các nhiệm vụ của nhóm. Ví dụ: các thành viên trong nhóm có thể khác nhau về kỹ năng học tập trong ngành học hoặc liên quan đến các kỹ năng khác liên quan đến nhiệm vụ nhóm (ví dụ: khả năng thiết kế, kỹ năng lập trình, kỹ năng viết, kỹ năng tổ chức) (Johnson và các cộng sự, 2006).

Cho phép sinh viên tự lựa chọn thành viên là một lựa chọn phổ biến nhưng có thể dẫn đến các sự cợt nhả, cả nhóm tin vào 1 suy nghĩ đồng nhất và không có chỗ cho sự tăng trưởng và phát triển của những ý kiến khác. Một số giảng viên thường cho phép sinh viên chọn một hoặc hai thành viên nhóm theo lựa chọn của họ, trong khi phần còn lại sẽ được giảng viên chỉ định.

b. Đối với quy mô nhóm, một số chuyên gia cho rằng các nhóm gồm hơn năm sinh viên có xu hướng không thể quản lý được. Các nghiên cứu cho thấy khi các nhóm ngày càng lớn, động lực bên ngoài và bên trong có xu hướng giảm và các thành viên của các nhóm lớn hơn có xu hướng cảm thấy rằng những đóng góp cá nhân của họ sẽ không được chú ý (McWhaw, Schnackenberg, Sclater & Abrami, 2003). Giống như các khía cạnh khác của công việc nhóm, quy mô của một nhóm nên được định hình bởi các mục tiêu học tập của dự án.

3. Xoay vòng các nhóm ít nhất một lần trong suốt học kỳ để giảm thiểu khả năng những thách thức giống nhau trong quá trình làm việc sẽ gây ảnh hưởng quá nhiều đến điểm số của sinh viên.

4. Tận dụng thiết kế kiểm tra đánh giá của bạn như một hình thức kiểm tra và cân bằng, hoặc hệ thống khuyến khích để hỗ trợ sinh viên thông qua các mối quan hệ làm việc đầy thách thức. Chúng có thể ở dạng một mẫu đánh giá, nơi sinh viên đánh giá và cung cấp phản hồi về các thành viên trong nhóm. Ngoài ra, nó có thể đòi hỏi phải chọn ra những sinh viên có khả năng quản lý thành công trước các tình huống thử thách.

Trong quá trình làm việc nhóm

5. Chỉ định vai trò trong nhóm nhóm (ví dụ: người quản lý, người luôn hoài nghi về các đáp án, người có học lực tốt và người thân thiện với các thành viên trong nhóm), có thể hữu ích cho những sinh viên không quen hoặc không có kỹ năng làm việc nhóm.

6. Thường xuyên quan sát các tương tác và tiến trình của nhóm, bằng cách luân phiên thay đổi quá trình làm việc nhóm, thu thập tài liệu trong quá trình hoặc cả hai. Khi bạn quan sát các vấn đề, hãy can thiệp để giúp học sinh tiến lên phía trước trong nhiệm vụ và cùng nhau làm việc hiệu quả.

Sau khi làm việc nhóm

Cung cấp một cấu trúc cho các nhóm để phản ánh về những hoạt động tốt trong nhóm của họ và những gì có thể được cải thiện. Một bài tập tốt kiểm tra sinh viên là danh sách các câu hỏi của Graham Gibbs (1994) dưới đây.

Lần làm việc gần đây nhất

  • Điều tôi thích nhất về nhóm là…
  • Điều tôi không thích nhất về nhóm là…
  • Điều hiệu quả nhất về cách làm việc của nhóm là…
  • Điều kém hiệu quả nhất về cách làm việc của nhóm là
  • Những việc tôi giúp nhiều nhất cho nhóm là…
  • Những việc tôi giúp ít nhất cho nhóm là…

Lần làm việc tiếp theo

  • Những kiểu người mà tôi thích làm việc cùng là…
  • Các vai trò mà tôi thích làm trong nhóm là…
  • Các bài tập mà tôi muốn nhóm được trải qua là…
  • Các phương thức làm việc mà tôi muốn sử dụng là
  • Cách tôi muốn nhóm điều hành các cuộc họp của chúng tôi là

3. Kích thước lớp học thực tế khác

Tham dự: Tranh thủ sự giúp đỡ của trợ giảng của bạn để tham dự. Cho học sinh có mặt và không có mặt bằng việc điền vào một tờ điểm danh đặt ở cửa. Trong trường hợp có thể, hãy sử dụng các điểm dữ liệu khác nhau để giúp bạn thiết lập danh sách điểm danh, chẳng hạn như hồ sơ của trợ giảng, các sinh viên đi học và vắng mặt và những người gửi các tài liệu cuối bài. Các sinh viên được thông báo rằng họ có thể sẽ nhận điểm F nếu họ vắng mặt quá số buổi quy định (theo quy định của trường). Nếu bạn không thể liên lạc với một học sinh vắng mặt trong thời gian dài (3 tuần hoặc lâu hơn), hãy thông báo cho ban quản lý nhà trường để họ có những hành động tiếp theo. Những sinh viên như vậy có thể bị cho thôi học và rút khỏi trường.

Việc không nộp bài hoặc nộp bài muộn: Hậu quả của việc này cần được giải quyết rõ ràng trong quy định của giáo viên và / hoặc đề cương khóa học.

Sự trung thực trong học thuật: Tính trung thực trong học tập là một giá trị quan trọng được sinh viên của chúng ta thấm nhuần. Thư viện có một mục tiêu tự học mà sinh viên có thể tự học và làm quen với đạo văn và các vấn đề liên quan. Điều này có nghĩa là bạn cần phải nhắc đi nhắc lại với sinh viên, cả bằng lời nói lẫn bằng văn bản, có thể là trong email gửi lớp hay trang thong báo trên eLearn – trang học trực tuyến.

Với mục đích này, một điểm khởi đầu tốt sẽ là các điều khoản tiêu chuẩn có trong đề cương khóa học của bạn, trong đó nêu rõ như sau:

Tất cả các hành vi không trung thực trong học tập (bao gồm, nhưng không giới hạn, đạo văn, gian lận, bịa đặt, tạo điều kiện cho hành vi không trung thực trong học tập của người khác, sở hữu trái phép các câu hỏi thi hoặc giả mạo công việc học tập của các sinh viên khác) là vi phạm nghiêm trọng.

Tất cả các bài tập (dù bằng lời hay bằng văn bản) được gửi cho mục đích đánh giá năng lực thì sinh viên phải tự hoàn thành. Hình phạt cho hành vi vi phạm là điểm không cho tới nặng hơn là đuổi học, tùy thuộc vào bản chất của hành vi vi phạm.

Nếu có những nghi ngờ, sinh viên nên tham khảo người hướng dẫn khóa học. Chi tiết về Bộ luật chống gian lận của SMU có thể được truy cập tại đây.

Tham vấn: Hãy cung cấp cho sinh viên của bạn một loạt các ngày và thời gian mà họ có thể sắp xếp để tham khảo ý kiến với bạn theo qui tắc ai đến trước được phục vụ trước. Trợ giảng của bạn sẽ có thể hỗ trợ để thiết lập một hệ thống trực quan và minh bạch cho việc này bằng GoogleDocs. Một số giảng viên sử dụng WebEx (hoặc các nền tảng hội nghị trực tuyến tương đương) để linh hoạt hơn về thời gian. Với sự cho phép của sinh viên, các cuộc tham vấn cũng có thể được ghi lại và sử dụng để họ xem xét hoặc chia sẻ với những người còn lại trong lớp khi thích hợp. Nên khuyến khích họ thảo luận và đặt nội dung cuộc tham vấn trước ít nhất 1 ngày.

Nguồn: https://cte.smu.edu.sg/classroom-management

Bình luận

Gửi phản hồi

Gửi phản hồi